Nhưng rồi, khi ảnh hưởng của Mỹ chưa rõ đã “cân bằng” đến đâu, thì Ngoại trưởng John Kerry xuất hiện và bắt đầu các chuyến công du ngoại giao con thoi đến Trung Đông, dấy lên mối lo ngại rằng lợi
Thái độ của người Mỹ ở thời khắc hiện tại có thể khiến các đồng minh ở châu Á nhận ra rằng: Siêu cường thế giới đang mặc nhiên nhấn không đủ khả năng cùng lúc quan hoài đến nhiều “đối tác”. Tuy nhiên, nếu chỉ có vật chất mà thiếu đi chiến lược, tầm tư duy và khả năng lãnh đạo, thì khu vực này vẫn luôn trở nên miếng bánh thơm ngon cho những quốc gia nuôi dưỡng tham vọng lớn. Của Mỹ ở Syria đến sự nhiệt tình hiếm thấy khi Mỹ đang có vẻ đấu sa lầy ở Trung Đông.
Tuy nhiên, trong thời khắc ngày nay, mối quan hoài đó chẳng thể kiêm toàn. Nhưng nếu chiến sự ở Syria kéo dài và Tổng thống Obama thấy cần duy trì sự can thiệp sâu rộng và lâu dài ở quốc gia Trung Đông này, thì đó sẽ là tín hiệu khác gửi đến các đồng minh cũng như đối thủ của Mỹ: châu Á - thái hoà Dương, bao gồm cả Hoa Đông và Biển Đông khó lòng đợi mong vào Mỹ.
Thực tiễn, chừng độ phân tâm của Washington với chiến lược tái thăng bằng ảnh hưởng ở châu Á - Thái Bình Dương sẽ phụ thuộc vào thời gian và cường độ tham chiến của Mỹ ở Syria. Tuy nhiên, Washington còn nhiều nhân vật “tai to, mặt lớn” gây được ấn tượng với người châu Á vẫn nối cam kết sẽ đẩy mạnh chính sách “tái cân bằng” này.
Nói cách khác, mọi sự xoa dịu chỉ là kế sách tạm bợ. Các quan chức cấp cao thi thoảng vẫn “lượn qua” để các nhà nước trong khu vực không quên lãng sự hiện diện của Mỹ. Thực tại luôn có phương sai lớn so với lý thuyết. Đó là đề nghị hiển nhiên.
Bị trói buộc bởi sự khan hiếm, chiến lược gì thì cũng cần có sự ưu tiên. Kể từ khi Trục châu Á - thái hoà Dương được ban bố, từ nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách đến các đồng minh, đối tác và đối thủ tiềm ẩn trong khu vực đều đặt ra câu hỏi: Chiến lược này có thể thăng bằng lại tầm ảnh hưởng của Mỹ khi mà đối tượng bên kia “đầu cân” không gì khác ngoài Trung Quốc với những khoản đầu tư bạo tay và thông tin về lực lượng quân sự luôn bị o bế kỹ, bao gồm cả việc xây dựng hệ thống hàng không mẫu hạm vốn là thế mạnh của Mỹ.
Các chiến lược luôn đòi hỏi có bước đi ứng. Đến nay, tham vọng của Mỹ có vẻ tương đối “hạn chế”. Thực vậy, trong khi Chính phủ Trung Quốc công khai phản đối cuộc tấn công quân sự của Mỹ nhằm vào chính quyền Assad, thì các học giả Trung Quốc lại cho thấy thái độ “đa sắc màu” của họ.
Trong khi đó, gần đây, Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel đã có chuyến công du đến một số nước Đông Nam Á, nơi ông tái khẳng định lại cam kết người Mỹ sẽ không bỏ rơi châu Á - thái hoà Dương.
Sự vắng mặt của người Mỹ sẽ khiến các thần thế đối địch “mừng thầm”. Sự can thiệp của Mỹ vào Syria sẽ ngày càng củng cố những định kiến và lo ngại về sự phân tâm của Washington với chiến lược này. Trung Quốc có chút lợi ích thương nghiệp với Syria, nhưng xem ra thành tựu lớn nhất mà Bắc Kinh có thể thu được với nhân cách là “diễn viên quần chúng” nói vài lời phản đối lại chính là sự phân tâm của người Mỹ.
Thậm chí, việc Washington chẳng thể dứt tình với Trung Đông đã khiến các quan chức Mỹ bắt đầu dần quên hình tượng “người đàn ông hướng đến châu Á” của Tổng thống Obama. Chính sách Trục chiến lược châu Á - thanh bình Dương mà Tổng thống Obama tung ra năm 2011 cũng vậy.
Dù những lực lượng này có ra công chỉ trích Mỹ “gian dối” hay “gây nguy hiểm” cho thế giới bằng sự can thiệp vũ trang vào Syria, thì đó chỉ là phép ngoại giao tối thiểu mà thôi.
Trước thế cuộc giờ, trang Brooklyn Diplomat nhận định: “Hãy quên đi ảo mộng Mỹ sẽ rút chân khỏi Trung Đông”. Điều đó buộc Mỹ phải lựa chọn: một là Trung Đông, hai là châu Á - Thái Bình Dương. Của Mỹ đã không còn đặt ở châu Á nữa. Bởi hồ hết nhà nước ở khu vực này đều nhỏ bé, dễ bị tổn thương với lực lượng quân sự và vũ khí tụt hậu hàng chục, thậm chí hàng trăm năm so với các nước có tiềm lực kinh tế mạnh.
Khi chiến lược này đi vào thực hiện sẽ phức tạp hơn nhiều so với những bài phát biểu hay tài liệu in ấn. Trong đó, đích thân Tổng thống Obama vẫn công du đến khu vực và cam kết duy trì sự hiện diện của Mỹ cả trên lĩnh vực thương nghiệp, ngoại giao cũng như quân sự, hỗ trợ hàng hải. Từ sửng sốt đến tranh cãi về lợi. Giới quan sát đã được chứng kiến các chuyến công du của Cố vấn an ninh quốc gia Tom Donilon, Giám đốc cao cấp NSC châu Á Jeffrey Bader, cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng như Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về châu Á - thái hoà Dương Kurt Campbell đến châu Á như muốn mô tả cố tái thăng bằng tầm ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực.
Thực tế là dù có bao nhiêu lính và tàu Mỹ đóng tại châu Á cũng như có bao lăm chuyến công du hay hiệp định hàng tỷ USD được ký kết, thì mối hiềm nghi vẫn không thể kết thúc.
Nếu sự phân tâm của Washington chỉ diễn ra trong ngắn hạn, thì mối lo ngại không cần phải bàn đến.
Mỹ có thể vẫn là nền kinh tế cũng như cường quốc quân sự lớn nhất thế giới, song không thể phủ nhận các lực lượng mới nổi đang định hình lại cục diện thế giới cả về quân sự và kinh tế. Không khó hiểu khi các học giả và phương tiện truyền thông vẫn liên tiếp đặt câu hỏi về các cam kết của Mỹ.
Có một số cách để Washington có thể làm dịu nỗi lo về tính vững bền của Trục chiến lược châu Á - yên bình Dương như cung cấp giúp đỡ quân sự cho đồng minh và các đối tác trong khu vực để tạo điều kiện cho họ có thể dự ổn định khu vực và duy trì an ninh hàng hải cũng như các hoạt động nhân đạo.
Nếu “ôm” cả hai bên, thì chung cục sẽ chẳng giữ được bên nào như ý. Tuy nhiên, câu hỏi về tính bền vững của chính sách này sẽ không vì mấy chuyến công du mà vơi bớt. Hai hàng không mẫu hạm và 5 tàu khu trục đã sẵn sàng để “ngăn chặn, trừng trị và làm suy giảm” sức mạnh quân sự của Syria.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét